Đây là lần đầu tiên Forbes công bố danh sách, dựa trên sự đánh giá lựa chọn khách quan từ hơn 300 thương hiệu và loại bỏ những thương hiệu nước ngoài dù được sản xuất trong nước.
Phương pháp đánh giá được Forbes Việt Nam sử dụng để xếp hạng danh sách này là nhìn vào những số liệu tài chính. Cụ thể là tính toán đóng góp của thương hiệu vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở các số liệu tài chính minh bạch.
Do đó, một số công ty dù có thương hiệu đáng chú ý lại không có đủ cơ sở để tính toán giá trị. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang trong quá trình cổ phần hóa, số liệu tài chính không công bố đầy đủ cũng khó có thể xác định.
Với việc chiếm tới 70% số doanh nghiệp, nhóm ngành hàng tiêu dùng chiếm vị trí áp đảo hoàn toàn trong danh sách. Xếp thứ nhì và thứ ba lần lượt là nhóm ngân hàng và tài chính, với tỷ lệ tương ứng là 20% và 10%. Nhóm dược phẩm và hàng không chiếm 5%.
Đáng chú ý là các thương hiệu có giá trị của Việt Nam chủ yếu được hình thành sau năm 1986, sau khi nền kinh tế chuyển đổi hoạt động theo cơ chế thị trường. Hầu hết các thương hiệu công ty được xây dựng trong vòng 20 năm qua cũng cho thấy quá trình phát triển của cộng đồng doanh nghiệp nước ta trong xu thế hội nhập.
Nhóm công nghệ và viễn thông chỉ có 3 đại diện duy nhất là VNG, Viettel và FPT. Đây là điều khá ngược với xu thế chung của làng công nghệ thế giới.
Trong tổng số 40 doanh nghiệp có mặt trong bảng xếp hạng, Vinamilk đứng ở vị trí dẫn đầu với giá trị ước tính 1,52 tỷ USD. Đứng ở vị trí thứ 2 là Tập đoàn Viễn thông Quân độ Viettel với giá trị 752 triệu USD. Các vị trí tiếp theo trong top 10 lần lượt thuộc về Vingroup giá trị 279 triệu USD, Sabeco 247 triệu USD, FPT 171 triệu USD, Vietinbank 147 triệu USD, Vietcombank 135 triệu USD, Masan Group 126 triệu USD, BIDV 125 triệu USD, Việt Nam Arilines 78 triệu USD.
Danh sách 40 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam do tạp chí Forbes Việt Nam bình chọn:
|
1. Vinamilk (1976) $1,520 triệu 2. Viettel (1989) $752,8 triệu 3. Vingroup (1993) $279 triệu 4. Sabeco (1977) $247 triệu 5. FPT (1988) $171 triệu 6. Vietinbank (1988) $147 triệu 7. Vietcombank (1963) $135 triệu 8. Masan Group (1996) $126 triệu 9. BIDV (1957) $125 triệu 10. Việt Nam Airlines (1956) $78 triệu 11. Thế giới di động (2004) $77 triệu 12. Bảo Việt (1964) $72,8 triệu 13. PVI (1996) $66,4 triệu 14. Ô tô Trường Hải (1997) $65,4 triệu 15. Nutifood (2000) $64,8 triệu 16. Hòa Phát (1992) $64,1 triệu 17. Habeco (1957) $63,8 triệu 18. Vietjet Air (2007) $63,4 triệu 19. MBBank (1994) $61,7 triệu 20. Dược Hậu Giang (1982) $59,4 triệu |
21. Thực phẩm TH (2010) $58,4 triệu 22. PNJ (1988) $53,3 triệu 23. Sacombank (1991) $47,6 triệu 24. Techcombank (1993) $39,7 triệu 25. Minh Long (1970) $39,5 triệu 26. VPBank (1993) $37,7 triệu 27. VNG (2004) $35,5 triệu 28. REE (1977) $31,2 triệu 29. Nhựa Bình Minh (1977) $28,2 triệu 30. Đạm Phú Mỹ (2003) $27 triệu 31. Traphaco (1972) $25,5 triệu 32. ACB (1993) $25,3 triệu 33. CotecCons (2004) $24,4 triệu 34. Xi măng Hà Tiên (1964) $23 triệu 35. Hoa Sen (2001) $21,9 triệu 36. Biti’s (1982) $17,4 triệu 37. Chứng khoán Sài Gòn – SSI (1999) $17,3 triệu 38. Chứng khoán Tp.HCM – HSC (2003) $15,7 triệu 39. Cao su Đà Nẵng (1975) $15,5 triệu 40. Thiên Long (1981) $13,5 triệu |
Mai Anh (Tổng hợp)
