Chiều 24/8, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng, với 473/476 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, tương đương 94,6%. Luật có hiệu lực từ ngày 1/12/2026.
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất nằm ở Luật Phòng, chống rửa tiền. Bản luật được thông qua bổ sung điểm n vào khoản 1 Điều 4, đưa "dịch vụ tài sản mã hóa" vào nhóm hoạt động thuộc diện báo cáo, đồng thời bổ sung Điều 33a riêng về dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa.
Từ giao dịch tài sản mã hóa lớn đến ví ẩn danh
Việc đưa các tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa vào diện đối tượng báo cáo đồng nghĩa một lớp nghĩa vụ tuân thủ vốn quen thuộc với ngân hàng, chứng khoán và một số ngành nghề tài chính - phi tài chính sẽ được mở rộng sang thị trường tài sản mã hóa.
Theo Điều 26 được sửa đổi, đối tượng báo cáo phải báo cáo giao dịch đáng ngờ cho Ngân hàng Nhà nước khi có cơ sở hợp lý để nghi ngờ tài sản trong giao dịch là tài sản do phạm tội mà có. Căn cứ nghi ngờ được hình thành trên cơ sở phân tích thông tin khách hàng, giao dịch, các dấu hiệu được quy định trong luật và những dấu hiệu khác do chính đối tượng báo cáo xác định.
Luật không xây dựng cơ chế giám sát chỉ dựa trên một ngưỡng giá trị giao dịch. Bộ 15 dấu hiệu tại Điều 33a bao phủ từ quy mô, tốc độ luân chuyển, hành vi của khách hàng cho tới công nghệ được sử dụng và nơi tài sản được chuyển đến.
Thứ nhất, chia nhỏ giao dịch thành nhiều khoản thấp hơn mức phải nhận biết khách hàng hoặc phải báo cáo; hoặc thực hiện nhiều giao dịch giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng.
Thứ hai, tài khoản xuất hiện hành vi không phù hợp với hồ sơ khách hàng, như nạp - giao dịch - rút liên tiếp ngay sau khi thiết lập quan hệ, nạp khoản lớn ngay khi vừa mở tài khoản, hoặc tài khoản không hoạt động lâu ngày đột ngột giao dịch lớn hay với tần suất bất thường.
Thứ ba, tài sản được chuyển ngay tới nhiều tổ chức cung cấp dịch vụ tại các quốc gia, vùng lãnh thổ thuộc danh sách rủi ro của Lực lượng đặc nhiệm tài chính - FATF, hoặc nơi chưa có hay chưa đầy đủ khuôn khổ phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hóa, trong khi khách hàng không có mối liên hệ hợp lý với những địa điểm này.
Thứ tư, khách hàng liên tục chuyển đổi giữa nhiều loại tài sản mã hóa mà không có mục đích đầu tư, kinh doanh hợp lý; hoặc đổi sang tiền pháp định trong điều kiện bất lợi về giá, chấp nhận thua lỗ hay mức phí cao bất thường.
Thứ năm, nhiều tài khoản hoặc địa chỉ ví không có quan hệ rõ ràng cùng chuyển tài sản về một ví, hay một tài khoản liên tục phân tán tài sản tới nhiều ví với giá trị tương đương trong thời gian ngắn.
Thứ sáu, sử dụng tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dịch vụ trộn giao dịch, hoặc nhiều lần chuyển từ loại tài sản có sổ cái công khai sang loại tăng cường ẩn danh nhằm làm gián đoạn khả năng truy vết.
Thứ bảy, giao dịch với địa chỉ ví hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ đã được cơ quan có thẩm quyền cảnh báo có liên quan tới thị trường trên mạng ẩn danh, tống tiền, lừa đảo, cờ bạc trực tuyến bất hợp pháp, tài sản bị đánh cắp hoặc hoạt động phạm tội khác.

Thứ tám, khách hàng truy cập nền tảng qua công cụ che giấu danh tính hoặc địa chỉ IP; hay nhiều tài khoản đứng tên các danh tính khác nhau nhưng có dấu hiệu cùng được điều khiển từ một thiết bị hoặc địa chỉ IP.
Thứ chín, khách hàng từ chối hoặc trì hoãn cung cấp hồ sơ nhận biết khách hàng, thông tin nguồn gốc tài sản; cung cấp tài liệu có dấu hiệu giả mạo, thông tin không nhất quán hoặc không giải thích hợp lý được mục đích giao dịch và quan hệ với đối tác.
Thứ mười, địa chỉ ví của khách hàng xuất hiện trong các nguồn thông tin công khai liên quan tới hoạt động bất hợp pháp, hoặc tài sản nạp - rút từng đi qua các cầu nối liên chuỗi được đánh giá có rủi ro cao.
Thứ mười một, khách hàng có dấu hiệu đứng tên hộ, bị lợi dụng làm trung gian hoặc là nạn nhân của lừa đảo. Luật đặc biệt lưu ý trường hợp người có hiểu biết hạn chế về tài sản mã hóa nhưng lại thực hiện giao dịch với giá trị, tần suất lớn không tương xứng với hồ sơ, hoặc giao dịch theo chỉ dẫn của bên thứ ba.
Thứ mười hai, nguồn tài sản chủ yếu hình thành từ các đợt phát hành tài sản mã hóa lần đầu thiếu minh bạch, có dấu hiệu gian lận; hoặc có nguồn gốc trực tiếp từ dịch vụ trộn giao dịch hay từ nhà cung cấp thiếu kiểm soát phòng, chống rửa tiền.
Thứ mười ba, giao dịch với tổ chức cung cấp dịch vụ không xác định được tư cách pháp lý hợp lệ, không nằm trong danh sách được cấp phép, hoặc đã bị cơ quan chức năng cảnh báo, đình chỉ hay thu hồi giấy phép.
Thứ mười bốn, phần ghi chú đi kèm giao dịch có dấu hiệu liên quan đến hoạt động bất hợp pháp; khách hàng thường xuyên thay đổi thông tin nhận dạng, xác thực; giao dịch từ địa chỉ IP không phù hợp với thông tin đã cung cấp hoặc nhiều lần mở tài khoản từ cùng một địa chỉ IP.
Thứ mười lăm, khách hàng giao dịch thông qua nhà cung cấp dịch vụ có trụ sở hoặc hoạt động tại quốc gia, vùng lãnh thổ thuộc danh sách rủi ro của FATF hoặc tại nơi chưa có, chưa đầy đủ khuôn khổ phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hóa.
Sàn tài sản mã hóa sẽ phải biết nhiều hơn về khách hàng và dòng tiền
Tác động trực tiếp của quy định mới nằm ở yêu cầu nâng cấp hệ thống tuân thủ của các tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa.
Để phát hiện được 15 dấu hiệu nói trên, việc nhận biết khách hàng thông thường sẽ khó đủ. Các nhà cung cấp sẽ phải có khả năng theo dõi chuỗi giao dịch, phát hiện quan hệ giữa nhiều ví, đối chiếu địa chỉ ví với nguồn cảnh báo, phân tích lịch sử luân chuyển qua các chuỗi khối và cầu nối liên chuỗi, nhận diện việc sử dụng công cụ tăng cường ẩn danh, đồng thời kết hợp dữ liệu về thiết bị, IP và hành vi tài khoản.
Báo cáo tiếp thu, giải trình của Chính phủ trước khi Quốc hội thông qua luật cho biết các nghĩa vụ của đối tượng báo cáo sẽ được thiết kế tương ứng với quy mô và mức độ rủi ro của từng loại hình; hoạt động kiểm tra, giám sát cũng phải căn cứ vào đánh giá rủi ro quốc gia và đánh giá rủi ro của chính đối tượng báo cáo. Chính phủ đồng thời dự kiến hướng dẫn cụ thể hơn tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi trong nghị định thi hành.
Luật còn yêu cầu các đối tượng báo cáo phải nhận diện và đánh giá rủi ro rửa tiền trước khi cung cấp sản phẩm, dịch vụ mới hoặc ứng dụng công nghệ đổi mới vào sản phẩm, dịch vụ hiện hữu. Trong khi đó, nếu có thể kết nối và khai thác thông tin đã có tại cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tổ chức không phải yêu cầu khách hàng cung cấp lại dữ liệu đó.
Những thay đổi này nằm trong quá trình Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền. Trong quá trình thảo luận, đại biểu Quốc hội đánh giá việc đưa 15 dấu hiệu liên quan tới tài sản mã hóa vào luật là bước cụ thể hóa Khuyến nghị số 15 của FATF.
FATF từ năm 2019 đã mở rộng các tiêu chuẩn phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố sang tài sản ảo và các nhà cung cấp dịch vụ liên quan. Đến tháng 7/2026 tiếp tục cảnh báo các khoảng trống quản lý vẫn đang bị các mạng lưới tội phạm lợi dụng để luân chuyển lượng lớn tiền bất hợp pháp.
Bên cạnh đó, một dấu hiệu đáng ngờ không đồng nghĩa một giao dịch đã được xác định là rửa tiền. FATF cũng lưu ý các chỉ báo rủi ro phải được xem xét trong bối cảnh cụ thể và bản thân sự xuất hiện của một chỉ báo chưa phải kết luận về hành vi rửa tiền.