Hàng loạt hành vi bị phạt về trốn thuế
Cụ thể, người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sẽ bị phạt tiền 1 lần số thuế trốn.
Các hành vi này gồm không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 4 và khoản 5 Điều 13.
Trường hợp không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế, trừ hành vi quy định tại Điều 16, cũng bị xử phạt.

Hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp người nộp thuế đã khai thuế đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, đã cung ứng vào kỳ tính thuế tương ứng, cũng thuộc trường hợp bị xử phạt.
Việc lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế cũng bị xử phạt.
Ngoài ra, người nộp thuế sử dụng hóa đơn không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hóa đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm cũng thuộc nhóm hành vi này.
Đối với chứng từ, các hành vi sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, được hoàn đều bị xử phạt.
Việc lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa không đúng thực tế để làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm cũng thuộc nhóm hành vi vi phạm.
Người nộp thuế sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế cũng bị xử phạt.
Bên cạnh đó, người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10, cũng thuộc các hành vi quy định tại Điều 17.
Mức phạt cao nhất 3 lần số thuế trốn
Mức phạt được xác định dựa trên tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Theo đó, người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 nhưng không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ sẽ bị phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn.
Nếu có một tình tiết tăng nặng, mức phạt là 2 lần số tiền thuế trốn. Trường hợp có hai tình tiết tăng nặng, người nộp thuế bị phạt 2,5 lần số tiền thuế trốn.
Mức phạt cao nhất là 3 lần số tiền thuế trốn, áp dụng đối với trường hợp có từ ba tình tiết tăng nặng trở lên.
Bên cạnh tiền phạt, người nộp thuế còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Cụ thể, người nộp thuế bị buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 17.
Trường hợp hành vi trốn thuế đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế. Tuy nhiên, người nộp thuế vẫn phải nộp đủ số tiền thuế trốn và tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8.
Ngoài ra, người nộp thuế bị buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế, nếu có, đối với các hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 17.
Đáng chú ý, các hành vi quy định tại điểm b, đ, e khoản 1 Điều 17 nếu bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số tiền thuế phải nộp, chưa được hoàn thuế, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 12.
An Nhiên