Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (HoSE: BMP) khép lại quý III/2026 với kết quả kinh doanh kém tích cực hơn so với chuỗi tăng trưởng trước đó. Doanh thu thuần đạt gần 1.463 tỷ đồng, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá vốn hàng bán tăng 9,4%, lên 873,2 tỷ đồng.

Diễn biến trái chiều khiến lợi nhuận gộp của doanh nghiệp giảm gần 20%, còn 589,6 tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp theo đó thu hẹp từ khoảng 47,9% xuống 40,3%, tức mất gần 7,6 điểm phần trăm chỉ sau một năm.
Đây là diễn biến đáng chú ý đối với Nhựa Bình Minh, doanh nghiệp vốn duy trì tỷ suất lợi nhuận gộp cao trong ngành nhựa xây dựng. Khi doanh thu giảm nhưng giá vốn vẫn tăng, áp lực không chỉ nằm ở quy mô tiêu thụ mà còn ở khả năng chuyển hóa doanh thu thành lợi nhuận.
Với mỗi 100 đồng doanh thu, Nhựa Bình Minh thu về khoảng 40 đồng lợi nhuận gộp, so với gần 48 đồng cùng kỳ năm trước.
Điều này buộc doanh nghiệp phải "ép chặt" chi phí. Kỳ vừa qua, chi phí bán hàng của Nhựa Bình Minh giảm 33,4%, còn khoảng 136 tỷ đồng; chi phí tài chính giảm 46,7%, xuống 43 tỷ đồng. Chi phí quản lý doanh nghiệp gần như đi ngang, ở mức 37,5 tỷ đồng.
Dù vậy, nỗ lực tiết giảm chi phí vẫn là chưa đủ. Lợi nhuận trước thuế quý III của Nhựa Bình Minh chỉ đạt 399 tỷ đồng, giảm 9,3% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 319 tỷ đồng, giảm 8,9%.
Kết quả này chấm dứt chuỗi ba quý tăng trưởng lợi nhuận liên tiếp của Nhựa Bình Minh, đồng thời cho thấy sức ép từ giá vốn đang trở thành biến số cần theo dõi sát hơn trong những tháng cuối năm.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, Nhựa Bình Minh đạt 4.240 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 0,4% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt 1.238 tỷ đồng, tăng 2,2%; lợi nhuận sau thuế đạt 990 tỷ đồng, tăng 2,4%.
Năm 2026, Nhựa Bình Minh đặt mục tiêu doanh thu 6.053 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 1.278 tỷ đồng. Sau 9 tháng, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 70% kế hoạch doanh thu và 77,5% mục tiêu lợi nhuận.
Để hoàn thành kế hoạch năm, Nhựa Bình Minh cần đạt thêm khoảng 288 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong quý IV. Đây là mức thấp hơn lợi nhuận ghi nhận trong quý III, nhưng kết quả thực tế vẫn phụ thuộc vào diễn biến kinh doanh trong những tháng cuối năm.
Dòng tiền kinh doanh giảm gần 40%
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của Nhựa Bình Minh trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 799 tỷ đồng, giảm 39,3% so với mức 1.318 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Trong 9 tháng, tiền chi trả thuế thu nhập doanh nghiệp của Nhựa Bình Minh lên tới 226 tỷ đồng, tăng so với mức 133 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Tiền lãi vay đã trả cũng tăng từ khoảng 10 tỷ đồng lên 90 tỷ đồng. Ở chiều ngược lại, dòng tiền tăng thêm từ các khoản phải trả là 419 tỷ đồng, cao hơn mức 215 tỷ đồng cùng kỳ. Do đó , dù lợi nhuận lũy kế 9 tháng vẫn tăng, lượng tiền thuần tạo ra từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã giảm đáng kể.
Tại ngày 30/9/2026, hàng tồn kho của Nhựa Bình Minh đạt 619 tỷ đồng, tăng khoảng 18% so với đầu năm; các khoản phải thu ngắn hạn đạt 267 tỷ đồng. Tiền và các khoản tương đương tiền ở mức 713 tỷ đồng, giảm so với 803 tỷ đồng đầu năm.
Dù dòng tiền kinh doanh giảm, doanh nghiệp vẫn nắm giữ lượng tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn đáng kể. Hai khoản mục này đạt tổng cộng 2.183 tỷ đồng, tương đương hơn 58% tổng tài sản tại cuối quý III.
Tổng tài sản của Nhựa Bình Minh đạt 3.748 tỷ đồng, tăng khoảng 11% so với đầu năm. Tổng nợ phải trả ở mức 576 tỷ đồng, trong đó vay tài chính khoảng 55 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu đạt 3.171 tỷ đồng.
Vốn chủ sở hữu đạt hơn 3.171 tỷ đồng, chiếm phần lớn tổng nguồn vốn. Cơ cấu này giúp Nhựa Bình Minh hạn chế rủi ro đòn bẩy và có nguồn lực để ứng phó với những biến động bất lợi của hoạt động kinh doanh.
Cơ cấu tài chính tương đối an toàn giúp Nhựa Bình Minh có dư địa ứng phó với biến động kinh doanh. Tuy nhiên, sức khỏe bảng cân đối kế toán và hiệu quả sinh lời là hai vấn đề khác nhau: lượng tiền lớn không tự động bù đắp được sự suy giảm biên lợi nhuận trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Với Nhựa Bình Minh, câu hỏi đáng theo dõi trong quý IV không chỉ là doanh nghiệp có hoàn thành mục tiêu lợi nhuận năm hay không, mà còn là khả năng bảo vệ biên lợi nhuận gộp trước sức ép giá vốn. Đây sẽ là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng lợi nhuận, thay vì chỉ nhìn vào con số lãi sau thuế lũy kế.