Ngân hàng đua phát hành trái phiếu, lãi suất tăng cao chạm ngưỡng 10,5%

Nhiều ngân hàng đẩy mạnh phát hành trái phiếu với mức lãi suất hấp dẫn, tới 10,5%/năm. Tuy nhiên, lãi suất huy động trái phiếu tăng cao tạo áp lực lên chi phí vốn và dấy lên lo ngại về thanh khoản.

Trái phiếu ngân hàng có lãi suất tới 10,5%/năm

Thị trường trái phiếu ngân hàng đang sôi động trở lại cả về quy mô phát hành lẫn mặt bằng lãi suất.

Thống kê của Chứng khoán MB (MBS) cho thấy ngân hàng là nhóm ngành có quy mô phát hành lớn nhất trong 8 tháng đầu năm 2026, đạt hơn 192.000 tỷ đồng, chiếm 50% tổng giá trị phát hành. Lãi suất bình quân gia quyền ở mức 8,5%/năm, kỳ hạn bình quân đạt 5,2 năm.

Theo báo cáo “Tổng quan thị trường trái phiếu doanh nghiệp quý III/2026” của VIS Rating, giá trị phát hành mới trong quý đạt 172.000 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trái phiếu ngân hàng chiếm 66%, trái phiếu bất động sản chiếm 26%.

Còn theo công bố của HNX, trong tháng 9/2026, có 12 ngân hàng phát hành trái phiếu, với tổng giá trị 35.160 tỷ đồng. Phần lớn trái phiếu của các ngân hàng có kỳ hạn 3-10 năm. Trong đó, riêng tháng 9, HDBank là ngân hàng phát hành nhiều nhất với tổng giá trị 15.000 tỷ đồng; đứng thứ hai là Techcombank với 10.000 tỷ đồng; TPBank phát hành 3.500 tỷ đồng; LPBank với 3.100 tỷ đồng; trong khi PVcomBank phát hành khoảng 2.750 tỷ đồng...

Không chỉ tăng về quy mô phát hành, lãi suất trái phiếu ngân hàng cũng liên tục tăng mạnh và hiện ghi nhận mặt bằng lãi suất cao hiếm thấy. Từ mức quanh 8%/năm vào cuối tháng 6, lãi suất trái phiếu ngân hàng nhanh chóng vọt lên 9%/năm trong tháng 7 và chạm ngưỡng 10%/năm ở tháng 8. Tới tháng 9, lãi suất trái phiếu ngân hàng lên mức 10,5%/năm. Với các ngân hàng cổ phần tư nhân, lãi suất trái phiếu kỳ hạn 3-6 năm chủ yếu dao động quanh 9% - 9,1%/năm. Còn lãi suất trái phiếu của nhóm ngân hàng có vốn nhà nước vào khoảng 7,87% - 8,2%/năm.

Trong tháng 9/2026, lãi suất trái phiếu ngân hàng phổ biến quanh 9%/năm. Cao nhất là các lô trái phiếu riêng lẻ của PVcomBank với lãi suất 9,6% - 10,5%/năm. Lãi suất trái phiếu tại TPBank là 9,1% - 9,7%/năm; tại LPBank là 9,68%/năm. Nam A Bank có các lô trái phiếu với lãi suất lên tới 9,6%/năm. Sacombank phát hành trái phiếu kỳ hạn dài với lãi suất 9,5% - 9,6%/năm. MB cũng phát hành trái phiếu với lãi suất trên 9%/năm. Trong khi lãi suất trái phiếu tại HDBank là 9,2%/năm.

Mức lãi suất 9,5-10,5%/năm của các lô trái phiếu nói trên cao hơn lãi suất tiền gửi thông thường tại các ngân hàng phát hành. Việc lãi suất trái phiếu tăng cao phản ánh nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn của các ngân hàng đang cấp thiết. Diễn biến này cho thấy áp lực cạnh tranh nguồn vốn của hệ thống ngân hàng đang lan từ thị trường tiền gửi sang trái phiếu. Điều này phản ánh một thực tế là các ngân hàng đang phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn để đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động và duy trì khả năng cung ứng tín dụng.

Theo TS Phạm Ngọc Hương Quỳnh, giảng viên Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, các ngân hàng phải chấp nhận trả mức lãi suất cao hơn tiền gửi thông thường để bù đắp cho thời gian nắm giữ dài và tính thanh khoản thấp hơn của trái phiếu. Trong những tháng cuối năm, khi mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% vẫn là ưu tiên hàng đầu để hỗ trợ kinh tế, cuộc đua phát hành trái phiếu có thể diễn ra mạnh mẽ hơn.

Nhóm phân tích FiinRatings dự báo, mặt bằng lãi suất trái phiếu ngân hàng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Điều này đồng thời thể hiện qua kế hoạch chào bán trái phiếu quy mô lớn của nhiều ngân hàng trong các tháng cuối năm.

Lãi suất tăng cao tạo nhiều áp lực

Trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế gia tăng và tăng trưởng tiền gửi chậm hơn tín dụng, trái phiếu trở thành một kênh quan trọng để các ngân hàng bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn.

Nguyên nhân chính khiến các ngân hàng đẩy mạnh phát hành trái phiếu là do sự mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Khi tăng trưởng tín dụng vượt xa tốc độ huy động tiền gửi từ dân cư, các ngân hàng buộc phải tìm đến kênh trái phiếu để bù đắp nguồn vốn ổn định, đáp ứng các yêu cầu an toàn hoạt động.

TS Châu Đình Linh - Trường đại học Ngân hàng TP. HCM, nhận định bên cạnh mục tiêu đáp ứng nhu cầu thanh khoản, nhiều trái phiếu ngân hàng, nhất là trái phiếu có kỳ hạn dài và đáp ứng các điều kiện theo quy định, còn có thể được tính vào vốn cấp 2. Qua đó, ngân hàng có thêm dư địa cải thiện hệ số an toàn vốn, củng cố năng lực tài chính và mở rộng hoạt động kinh doanh, nhất là khi huy động vốn cạnh tranh.

Theo bà Nguyễn Thảo Hạnh, Phó phòng Bộ phận Nghiên cứu và Dịch vụ nhà đầu tư tại FiinRatings, việc các ngân hàng liên tục phát hành trái phiếu diễn ra trong bối cảnh nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn gia tăng.

Khác với tiền gửi, trái phiếu kỳ hạn 5 - 7 năm giúp ngân hàng kéo dài cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn, qua đó tạo thêm dư địa phục vụ hoạt động tín dụng và đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn. Lợi ích quan trọng của việc phát hành trái phiếu là giúp ngân hàng gia tăng nguồn vốn có kỳ hạn dài, qua đó, cải thiện cơ cấu nguồn vốn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu tín dụng trung, dài hạn của nền kinh tế.

Phát hành trái phiếu cũng giúp các tổ chức tín dụng cân đối lại tài sản và nguồn vốn, giảm mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn. Với những đợt phát hành quy mô lớn, ngân hàng còn có cơ hội tối ưu chi phí huy động và đa dạng hóa nguồn vốn bên cạnh tiền gửi truyền thống từ dân cư và các tổ chức kinh tế.

Tuy nhiên, lãi suất huy động trái phiếu tăng cao tạo áp lực lên chi phí vốn của ngân hàng. Lãi suất phát hành trái phiếu ngân hàng hiện tiệm cận mức lãi suất cho vay, đồng nghĩa biên lợi nhuận giữa đầu vào và đầu ra của ngân hàng bị thu hẹp đáng kể. Dù trái phiếu ngân hàng được đánh giá là an toàn hơn so với trái phiếu doanh nghiệp nhờ sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhưng việc tăng nhanh lãi suất cũng làm dấy lên những lo ngại về thanh khoản.

Báo cáo từ FiinRatings chỉ ra một dấu hiệu định lượng phổ biến ở các ngân hàng từng gặp sự cố thanh khoản là sự mất cân xứng giữa tăng trưởng tổng tài sản, dư nợ cho vay và tiền gửi khách hàng. Áp lực về nguồn vốn cũng gia tăng khi khối lượng trái phiếu đến hạn thanh toán vào những tháng cuối năm ở mức lớn.

Theo thống kê của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) từ nay đến hết năm 2026 sẽ có khoảng 106.155 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn, trong đó nhóm ngân hàng chiếm khoảng 20.756 tỷ đồng, tương đương 19,4% tổng giá trị. Vì thế, nhiều ngân hàng sẽ phải cân đối nguồn tiền để thanh toán các lô trái phiếu đến hạn, đồng thời tiếp tục huy động vốn mới nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh và các yêu cầu về an toàn vốn.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng, các ngân hàng đang đồng thời sử dụng nhiều kênh huy động, từ tiền gửi tiết kiệm, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi đến vay vốn từ các định chế tài chính nước ngoài. Về dài hạn, việc thúc đẩy phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và các định chế đầu tư dài hạn sẽ đóng vai trò then chốt, giúp san sẻ nhiệm vụ cung ứng vốn cho nền kinh tế vốn đang dồn nhiều lên vai hệ thống ngân hàng.

Yên Nghĩa