Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Cơ hội và thách thức

Ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) của Việt Nam ngày càng phát triển và có vai trò quan trọng trong việc tham gia vào chuỗi cung ứng cũng như chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức và cần những chính sách phù hợp để phát triển.

Ngày 22/5 vừa qua, Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư TP.HCM (ITPC) và Công ty Reed Tradex đã tổ chức diễn đàn công nghiệp hỗ trợ lần thứ 10 với chủ đề “Làm thế nào để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”.

Nội dung chính của diễn đàn là làm thế nào để CNHT Việt Nam có thể tận dụng những cơ hội lớn để phát triển.

Cơ hội lớn

Sau khi Việt nam đã gia nhập WTO, AFTA.. những doanh nghiệp FDI còn trụ lại hoặc đầu tư mới, họ thực sự mong muốn tìm cơ hội đầu tư lâu dài và hợp tác với Việt Nam.

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Cơ hội và thách thức - Ảnh 1
Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội.

Năm 2013, tổng số vốn đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp (DN) Nhật được cấp phép tại Việt Nam là 22,4 tỉ USD, chiếm 26% với 500 dự án. Con số cho thấy, Nhật Bản vẫn là nhà đầu tư lớn nhất, hoạt động của các công ty Nhật Bản tại Việt Nam vẫn rất sôi động.

Ông Duangdej Yuaikwarmdee, Phó giám đốc điều hành Công ty Reed Tradex - đơn vị đồng tổ chức diễn đàn CNHT liên tiếp trong 10 năm qua, nhận xét: Việt Nam hiện nay là một điểm đến đầu tư hấp dẫn cho các nhà sản xuất quốc tế trong lĩnh vực ô tô, điện tử và các ngành CNHT. Các công ty Nhật Bản mới tới đây đang tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất của họ tại thị trường nội địa. Tìm kiếm các đối tác phù hợp để hợp tác kinh doanh cũng sẽ giúp ngành công nghiệp của Việt Nam phát triển mạnh mẽ và thu được lợi nhuận trong thời gian dài.

Ngoài ra, việc phát triển công nghiệp hỗ trợ được xem là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Việt Nam nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Vẫn thiếu hụt CNHT cho doanh nghiệp nước ngoài

Hiện nay, một số ngành công nghiệp có thế mạnh của Việt Nam như điện tử, dệt may, da giày, lắp ráp ô tô, xe máy… hầu như chưa có công nghiệp hỗ trợ đi kèm, nên phải phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, khiến sản xuất nhiều khi còn manh mún, bị động, chi phí sản xuất cao.

Khảo sát của JETRO năm 2013 cho thấy tỷ lệ cung cấp nội địa cho các công ty Nhật chưa đến 32% tại Việt Nam so với 64% tại Trung Quốc và 53% tại Thái Lan. Mười năm qua, JETRO đã nỗ lực nâng cao ngành này thông qua các buổi trao đổi thương mại và triển lãm về CNHT song vẫn chưa được cải thiện đáng kể.

Ông Bùi Quang Hải, đại diện Hội Cơ khí TP.HCM (HAME), chia sẻ: DN chế tạo Việt Nam chỉ đáp ứng 11% nhu cầu của các công ty Nhật tại Việt Nam. Trong vài năm gần đây, các sản phẩm điện tử, máy tính, điện thoại của Việt Nam xuất khẩu đạt kim ngạch cao và tăng mạnh đến hai con số, nhưng đều là sản phẩm đến từ các DN FDI. Họ nhập khẩu tới 58% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, tương đương 40 tỉ USD sản phẩm công nghệ chế tạo, riêng linh kiện điện thoại gần 20 tỉ USD. Nguồn nhập khẩu nhiều nhất là Trung Quốc.

Nhiều DN thừa nhận đang trong tình trạng “làm công” vì phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ nước ngoài. “Hiện nay chúng ta đang đứng trước những cơ hội từ việc hợp tác với Nhật Bản xây dựng chiến lược hợp tác công nghiệp Việt Nam - Nhật Bản đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Trong đó, phát triển 6 ngành công nghiệp ưu tiên là điện tử, máy nông nghiệp, chế biến nông thủy sản, môi trường và tiết kiệm năng lượng, đóng tàu, sản xuất phụ tùng ô tô”, ông Hải cho biết.

Như vậy, ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển nhưng tận dụng cơ hội đó như thế nào là phụ thuộc vào nỗ lực của nhà nước cũng như các doanh nghiệp Việt Nam.

Nguyễn Hằng (Tổng hợp)

KinhDoanhNet

Cùng Chuyên Mục