Cơ hội cho phát triển
Năm 2013 được cho là một năm thành công với ngành gỗ khi kim ngạch xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Sang năm 2014, mục tiêu xuất khẩu gỗ đạt 6,2 tỷ USD là hoàn toàn khả thi khi các doanh nghiệp đã ký được hơn 3 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và dự kiến nhiều Hiệp định song phương, đa phương được ký kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngành này.
Ông Nguyễn Tôn Quyền Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết năm 2013 là năm thắng lợi lớn của ngành gỗ, đặc biệt trong bối cảnh ngành nông nghiệp nói chung suy giảm. Kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt mức cao nhất từ trước tới nay, 5,7 tỷ USD. Nếu cộng cả các đồ lâm sản ngoài gỗ như đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ song, mây, tre… thì kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt gần 6 tỷ USD.
Năm 2013, thị trường Mỹ đã phục hồi đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1,7 tỷ USD sau nhiều năm suy giảm, tăng gần 16%. EU chưa tăng nhiều. Nhật Bản có khởi sắc sau sự kiện sóng thần và điện hạt nhân. Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đã bắt đầu tăng trở lại, tăng khoảng 200 triệu USD so với năm 2012.
Thành công nổi bật chính là sự phát triển của ngành gỗ tại thị trường Trung Quốc. 3 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ vào thị trường này rất mạnh. Ví dụ năm 2012 đạt khoảng 740 triệu USD, thì tới năm 2013 đã xấp xỉ 1 tỷ USD.
Sở dĩ đạt được kim ngạch xuất khẩu cao là do các doanh nghiệp trong Hiệp hội đã mở được thị trường mới như Nga, Ấn Độ, Trung Đông…
Năm 2013, Việt Nam lại vươn lên đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu gỗ sang EU. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu chưa lớn, chỉ 800 triệu USD. Song, Việt Nam mới chỉ tiếp cận được 4 nước là Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, nên nếu chúng ta vươn được tới 27 nước trong khối thì dung lượng thị trường này còn rất lớn.
Năm 2014, dự kiến VPA sẽ được ký kết. Khi đó ngành gỗ Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều do được phía EU hỗ trợ nên giá bán cao hơn, thị trường ổn định hơn và được tiếp cận thẳng với người dân.
Một hiệp định khác cũng đang được đánh giá là có nhiều cơ hội tiềm ẩn cho xuất khẩu các ngành hàng nông lâm thuỷ sản chính là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Khi hiệp đinh này được ký kết thì Việt Nam sẽ được mua gỗ từ các nước trong khối TPP với thuế suất 0%
Thách thức
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền thì mặc dù kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng hệ số lợi nhuận và giá trị gia tăng chưa cao do chi phí đầu vào trong nước như xăng dầu, điện nước, nhân công tăng. Hơn nữa, chi phí mua nguyên liệu gỗ của nước ngoài năm 2013 cũng rất cao, trong khi các hợp đồng đều được ký kết từ quý IV/2012.
Hơn nữa, Trung Quốc là thị trường có tốc độ tăng trưởng lớn, nhưng chủ yếu họ nhập khẩu sản phẩm thô là chính, với công nghệ thấp và mua sản phẩm giá rẻ của người trồng rừng ở Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái… Đây là điều cần lưu ý vì nó tác động mạnh tới người trồng rừng và chế biến gỗ. Hơn nữa, nếu như chúng ta không có chính sách đặc biệt với thị trường Trung Quốc thì việc đảm bảo gỗ 100% hợp pháp với thị trường này rất phức tạp.
Viêc ký kết VPA mang lại lợi ích về giá và thị trường ổn định hơn cho ngành gỗ Việt Nam nhưng đòi hỏi luật pháp của Việt Nam phải thay đổi nhiều để phù hợp với các quy định mới. Hơn nữa nhận thức của các đối tác như người trồng rừng, thương lái, làng nghề… về VPA và FLEGT rất mơ hồ nên họ khó có thể tận dụng được cơ hội mà VPA/FLEGT mang lại.
Nếu TPP được ký kết, các doanh nghiệp phải chuẩn bị để thích nghi, trong đó có rất nhiều thị trường lớn mà chúng ta đang xuất khẩu như Mỹ, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Canada. Nếu chúng ta mua gỗ ngoài khối TPP (bao gồm 12 nước đang tham gia đàm phán) thì gỗ đó sau khi sản xuất, xuất khẩu sang các nước nội khối TPP sẽ phải chịu 2 rủi ro lớn, gồm thuế suất rất cao sự giám sát tính pháp lý của gỗ cũng rất khắt khe.Nhưng vấn đề ở chỗ liệu họ có đủ nguồn gỗ cung cấp cho ta. Và điều quan trọng hơn còn là sự cạnh tranh khốc liệt từ sản phẩm gỗ nhập khẩu của các thị trường này rất lớn, kỹ thuật và quản trị kinh doanh rất cao, khoảng cách trình độ của ta so với họ còn rất xa. Chính vì vậy, kỹ năng sản xuất, năng suất lao động cũng như mẫu mã, chất lượng sản phẩm của ta sẽ như thế nào để cạnh tranh với họ.
Nguyên liệu gỗ trong nước đang không đủ đáp ứng cho nhu cầu chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam. Tài nguyên gỗ đã bị cạn kiệt do khai thác bừa bãi nên ta phải nhập tới 80% gỗ nguyên liệu. Hiện giá nguyên vật liệu gỗ đang tăng do nạn cháy rừng, lũ lụt, môi trường suy thoái… Nhiều nước như Lào, Myanmar, Indonesia – vốn là bạn hàng cung cấp gỗ nguyên liệu chủ yếu cho ta – nay đã ra lệnh cấm xuất khẩu gỗ thô. Ta phải nhập gỗ đã qua sơ chế, nên giá thành đắt. Hơn nữa, chi phí cho cước vận chuyển cũng không nhỏ, do giá dầu mỏ và nhiên liệu thế giới tăng. Ước tính, trong 3 năm qua, giá nguyên liệu gỗ vào Việt Nam đã tăng từ 20-22%. Điều này làm giảm đáng kể lợi nhuận của các DN.
Giải pháp cho ngành gỗ Viêt Nam
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền- Thời gian qua, các DN CBG trong nước chỉ chú tâm tới việc khai thác và sản xuất thành phẩm XK mà chưa chú trọng tới nguồn cung. Chính vì vậy, ngay từ bây giờ, các DN ngành gỗ cần phải tập trung đầu tư cho vùng nguyên liệu. Đó là yếu tố quyết định giúp sản phẩm có sức cạnh tranh lớn trên thị trường và phát triển bền vững. Bên cạnh đầu tư lâu dài cho vùng nguyên liệu, trước mắt DN cũng cần tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước như gỗ mít, xoài, điều… Cùng với đó, cần đặc biệt chú trọng đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cấp chất lượng sản phẩm, đầu tư đẩy mạnh XK sản phẩm “tinh”, chứ không chỉ XK hàng “thô” như bao lâu nay vẫn làm.
Về lâu dài, để tháo gỡ khó khăn cho ngành CBG, ông Nguyễn Bá Ngãi khẳng định, theo Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, định hướng thời gian tới của ngành là sẽ tập trung xây dựng các vùng cung cấp nguyên liệu tập trung gắn với các trung tâm CBG và đồ gỗ; quản lý bền vững và có hiệu quả tổng diện tích rừng sản xuất được quy hoạch là 8,4 triệu ha; thực hiện các biện pháp trồng rừng và khai thác hiệu quả để hình thành rừng gỗ lớn thay thế NK.
Ngoài ra, ông Ngãi cho biết, sẽ phát triển hình thức tổ chức sản xuất liên kết, tập trung hóa, tổng hợp hóa trong công nghiệp CBG. Cụ thể, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hình thành các DN quy mô vừa và lớn ở từng vùng kinh tế; lấy các DN mạnh đầu tàu hiện có làm trung tâm liên kết chuỗi sản xuất đối với mỗi sản phẩm chủ lực, nhất là sản phẩm XK. Bên cạnh đó, Tổng cục Lâm nghiệp cũng sẽ kiến nghị xem xét, sửa đổi bổ sung các chính sách thu hút vốn FDI theo hướng khuyến khích các DN FDI liên kết sản xuất với các DN Việt Nam, để tránh tình trạng khép kín khong có tác dụng lan tảo đến DN Việt Nam trong vùng.
Theo ông Ngãi, để tự “cứu” mình, các DN CBG cũng cần tập trung phát triển sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao như đồ gỗ nội thất, đồ gỗ ngoài trời, đồ mộc mỹ nghệ và sản phẩm mây tre, quế, hồi… Đồng thời, đẩy mạnh chế biến ván nhân tạo, giảm dần chế biến dăm gỗ XK; triển khai xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm có hiệu quả đối với cả thị trường trong và ngoài nước.
Liên quan tới vấn đề này, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng: Việt Nam đã được coi là công xưởng gỗ của thế giới. Chúng ta cần công nghệ chế biến để đem lại giá trị cao hơn. Nhưng trước hết ta phải xác định được trồng những cây gì là đặc biệt của Việt Nam. Muốn làm được điều đó, mỗi địa phương phải tìm ra thế mạnh của mình và tập trung vào cây trồng thế mạnh.
Chu Quỳnh (TH)