Thách thức của một quốc gia đông dân nhất thế giới
Dân số Trung Quốc hiện nay là hơn 1,3 tỷ người, chiếm 19,22% dân số thế giới. Để đáp ứng nhu cầu lương thực của số dân này cần một số lượng không hề nhỏ. Trung Quốc dự kiến sẽ tiêu thụ 147 triệu tấn gạo trong năm 2013/14, mức cao kỷ lục, nhiều hơn tới 10% so với chỉ 5 năm trước đây, và hơn 18% so với lượng gạo tiêu thụ năm 1990. Con số đó vượt 3 triệu tấn so với sản lượng dự kiến.
Mặc dù được biết đến là nước sản xuất, dự trữ gạo hàng đầu thế giới, nắm giữ hơn 40% tổng dự trữ gạo toàn cầu, nhiều gần gấp đôi mức dự trữ của nước tiêu thụ lớn thứ 2 thế giới là Ấn Độ. Nhưng hiện Trung Quốc vẫn đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu lương thực
Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa: Với kích thước rất lớn và dân số cực đông, Trung Quốc là một xứ đói ăn, khát dầu và thiếu nước khi mà diện tích khả canh chưa bằng 10% mà phải nuôi một dân số bằng 20%.
Diện tích canh tác của Trung Quôc còn bị thu hẹp dần bởi hai hiện tượng là nạn sa mạc hóa và đất bạc mầu . Thêm vào đó là quá trình đô thị hóa và gây thêm vấn đề khác là làm cạn nước và ô nhiễm môi trường, khiến đất hẹp còn bị thiếu nước lành ở dưới, thậm chí thiếu cả ánh sáng ở trên vì nhiều nơi bao trùm dưới khói độclàm cho khai thác nông sản mới bị giới hạn và dù ngày nay có sản lượng lúa gạo cao nhất thế giới, Trung Quốc vẫn thiếu lương thực.
Hiện nay Trung Quốc đã thông qua Chỉ thị Phát triển Lương thực và Dinh dưỡng từ 2014 đến 2020 mới nhấn mạnh đến việc đầu tư vào đất đai và nông nghiệp để giải quyết nhu cầu thức ăn ngày càng tăng của người dân. Tuy nhiên với địa hình sản xuất phân bố, đất đai bạc mầu và sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng làm cho quốc gia này phải nhập khẩu gạo để có đủ lương thực. Dự kiến Trung Quốc chắc chắn sẽ nhập khẩu 4 triệu tấn gạo năm 2014-2015
Việt Nam là thị trường ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc
GS Võ Tòng Xuân – chuyên gia Nông nghiệp nêu quan điểm khi bàn về vấn đề nông nghiệp Việt Nam thời gian qua trước thực trạng, Trung Quốc luôn là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam. Việc thương lái Trung Quốc ngừng thu mua từ lúa gạo, đến thủy sản, rau củ quả… đều khiến doanh nghiệp và nông dân lao đao.
Không chỉ rơi vào tình trạng bấp bênh, giá xuất khẩu cũng luôn ở mức thấp trong khi đáng ra Việt Nam phải nắm thế chủ động vì thực tế Trung Quốc cần Việt Nam hơn.
Việt Nam được biết đến là một đất nước có thế mạnh về nông nghiệp tuy nhiên nhiều ngành nghề trong lĩnh vực này hiện đang phụ thuộc Trung Quốc đầu vào và đầu ra của sản phẩm. Năm 2013, Việt Nam xuất khẩu được hơn 6,6 triệu tấn gạo, giá trị đạt 2,9 tỷ USD, giảm 13,45% về lượng và giảm 16% trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện Trung Quốc vẫn là thị trường gạo lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2014 TQ đã chiếm tới 41,75% thị trường xuất khẩu gạo của VN. Tuy nhiên thị trường này có nhiều rủi ro không lường trước được. Trung Quốc không có chủ trương làm cách này, cách nọ để quỵt nợ, nhưng họ thường làm hàng rào kỹ thuật. Khi mà giá xuống quá thấp mà họ lỡ mua cao thì họ tìm cách hủy hợp đồng. Cho nên năm 2013 họ đã hủy của mình 1,5 triệu tấn gạo cũng hình thức này. Hơn nữa xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Trung Quốc chủ yếu qua đường tiểu ngạch vì giấy tờ không cần làm nhiều, không phải đóng thuế dù tiền thu lại từ bán gạo không cao.
Để Trung Quốc mua dễ nhưng Việt Nam lại lỗ, làm hư đường xá và ép nông dân bán giá rẻ vì vậy người ta mới bán nhiều nhưng giá trị không được như gạo của Thái Lan hoặc như 1 số công ty bán đường đường chính theo đường xuất khẩu chính ngạch.
Thêm lý do quan trọng khiến gạo của Việt Nam xuất chủ yếu sang Trung Quốc do chất lượng gạo còn thấp nên việc xuất khẩu ra nước ngoài khó khăn hơn. Nếu phát hiện có dư lượng thuốc trừ sâu họ sẽ buộc tiêu hủy, các doanh nghiệp xuất khẩu phải trả thêm tiền cho việc tiêu hủy hoặc bị yêu cầu chở về nước. Như vậy, sẽ rất tốn kém còn nếu đưa sang Trung Quốc, Trung Quốc sẵn sàng thu mua mọi sản phẩm mà không cần chú ý có thuốc gì.
Nguyên nhân khác như mọi người vẫn biết, không chỉ ở lúa gạo mà nhiều mặt hàng khác, việc xúc tiến thương mại của Việt Nam còn rất yếu. Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn và Bộ Công thương chưa có những chiến lược để đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu gạo có chất lượng.
Giải pháp cho ngành xuất khẩu gạo Việt Nam
Trung Quốc là thị trường quan trọng với xuất khẩu gạo Việt Nam đây là điều không thể chối bỏ. Nhưng việc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường này dẫn đến việc bị ép giá, hủy hợp đồng, giá cả bấp bênh thì Việt Nam nên tìm cho mình một lối đi mới với những thị trường mới nhằm cân bàng lại với Trung Quốc và để nền sản xuất Việt Nam phát triển sâu hơn nâng cao chất lượng sản phẩm.
Theo GS Võ Tòng Xuân: Trung Quốc có dân số là 1,4 tỷ nên đây là thị trường lớn ở VN nên khi mất thị trường đó mình thiệt hại lớn nhất là hàng hóa mình chưa đạt chất lượng, chỉ TQ mua nhưng mặt khác cũng cho mình thấy nếu làm ăn đàng hoàng thì mua bán đàng hoàng thì mình có lời nhiều hơn. Chỉ có điều các doanh nghiệp phải thấy rằng mình phải chỉnh đốn, cải tiến vì hàng hóa xuất sang Trung Quốc. Trung Quốc có giận mình đến mấy vẫn phải ăn mà như gạo có mua của Thái Lan giá cũng cao hơn gạo VN nên VN thế nào cũng bán gạo cho TQ. Rồi các loại rau củ quả cũng như vậy. Muốn làm có lời phải chính đốn cách làm, buôn bán phải có hợp đồng còn nếu TQ muốn mua gì thì mua, VN đến cửa khẩu muốn bán gì thì bán tùy mình tiêu thụ được sản phẩm nhưng không chắc chắn, cái gì có hợp đồng cũng chắc chắn hơn, khi có hợp đồng, giá cả tốt hơn và người nông dân cũng khá hơn.
Bản thân TQ đang phụ thuộc VN. Họ đâu có đủ lương thực, thực phẩm, lúa gạo vì theo ước tính của các nhà kinh tế đến năm 2020 TQ sẽ thiếu ăn, thiếu nguồn lương thực ít nhất là 10 triệu tấn.
Dĩ nhiên TQ sẽ cố gắng sản xuất nhưng họ sản xuất không đủ do dân quá đông nên họ vẫn phải mua của VN còn mua của Lào cũng không có, Lào phải mua Thái Lan, Campuchia cũng phải mua của Thái Lan trong khi gạo Thái Lan giá cao nên TQ vẫn còn phải lệ thuộc vào VN.
Việt Nam phải lấy hoàn cảnh này để điều chỉnh không nên bán giá quá thấp để nông dân bị thiệt hại đường xá bị thiệt hại. Việt Nam luôn trong thế chủ động hơn bị động nên bây giờ VN cần chủ động.
Việt Nam phải đặt điều kiện, mua bán chứ không thể cầu cạnh TQ để bán vì mình biết TQ cần mình chứ TQ không thể đi chỗ khác mua. Đồng thời, chất lượng của các sản phẩm cũng cần được chấn chỉnh, chế biến các sản phẩm có chất lượng để bán giá cao hơn.
Ngoài ra Việt Nam cũng cần mở rộng thị trường của mình hướng tới nhưng thị trường cap hơn như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. Muốn hướng tới những thị trường này, sản xuất lúa gạo Việt Nam cần đầu tư kỹ thuật, sản xuất chuyên sâu hơn, tạo ra những sản phẩm chất lượng tốt hơn đáp ứng nhu cầu thị trường.
Chu Quỳnh (TH)