Trị “vốn khống”, cơ quan chủ quản làm gì?

(Kinhdoanhnet) – Nhằm ngăn ngừa tình trạng “vốn khống” tại nhiều doanh nghiệp hiện nay, Luật DN sửa đổi đã có thêm nhiều quy định chặt chẽ hơn.

Trong quá trình tổng kết thi hành Luật DN 2005, theo Ban soạn thảo Luật DN sửa đổi, hạn chế của Luật đã dẫn đến hiện tượng vốn điều lệ của rất nhiều DN không thực sự đúng với số vốn mà các cổ đông thực góp vào công ty.

Hệ quả là trên thực tế, phần lớn tranh chấp giữa thành viên, cổ đông trong công ty xuất phát từ việc các bên vi phạm nghĩa vụ góp vốn.

Phần nhiều DN kê khai mức vốn điều lệ rất lớn và lớn hơn nhiều so với số vốn thực tế các thành viên, cổ đông đã góp vào công ty. Đây thường là các DN muốn tạo ấn tượng về khả năng tài chính trong kinh doanh, để thuận lợi hơn trong vay vốn ngân hàng, tham gia đấu thầu…

Hiện tượng “vốn khống” tại nhiều DN, do các thành viên, cổ đông không thực hiện góp vốn: không góp đủ, đúng hạn và như cam kết, thậm chí không góp vốn.

Phần lớn DN không thực hiện nghĩa vụ thông báo tiến độ góp vốn với cơ quan đăng ký kinh doanh. Thực tế, cả cơ quan này và DN đều đang gặp khó khăn trong xử lý trường hợp cổ đông vi phạm nghĩa vụ góp vốn.

Trị “vốn khống”, cơ quan chủ quản làm gì? - Ảnh 1

Luật DN hiện hành cũng chưa có những quy định, giải thích đầy đủ khái niệm liên quan đến vốn và vốn góp dẫn đến cả cơ quan quản lý và DN đều chưa hiểu đúng bản chất, ý nghĩa pháp lý về vốn của công ty.

Ngoài ra, quy định về tiến độ vốn góp kéo dài đến 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN đối với công ty TNHH không những không đạt được mục tiêu quản lý mà còn làm phát sinh các mâu thuẫn, tranh chấp không đáng có trong nội bộ công ty.

Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật DN về góp vốn là việc tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm của các bên trong việc góp vốn, cũng như định giá tài sản góp vốn. Thế nhưng, các bên chưa thực sự hiểu đầy đủ, thậm chí trong một số trường hợp còn vi phạm nguyên tắc này.

Về biện pháp khắc phục hiện nay, dự thảo Luật DN sửa đổi đã quy định rõ ràng, thống nhất các khái niệm về vốn công ty cổ phần.

Theo đó, vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại. Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập DN là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong điều lệ công ty…

Dự thảo cũng đã bổ sung quy định về thời hạn thanh toán cổ phần đã được đăng ký mua khi đăng ký DN.

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN, HĐQT phải thông báo yêu cầu thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua cho các cổ đông.

Các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thanh toán, trừ trường hợp Điều lệ công ty, hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn...

Nếu sau thời hạn này, cổ đông chưa thanh toán đương nhiên sẽ không còn là cổ đông của công ty và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác.

Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán nhưng không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác…

Ngoài ra, cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua, phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày cổ đông đó phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua.

Thành viên HĐQT phải chịu trách nhiệm liên đới về các thiệt hại phát sinh do không thực hiện, hoặc không thực hiện đúng quy định về góp vốn... 

Dự thảo Luật DN sửa đổi bổ sung thêm những quy định chặt chẽ hơn về vốn góp và thời hạn thanh toán cổ phần nhằm ngăn ngừa hiện tượng "vốn khống" tại các DN. Đây sẽ là công cụ bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các NĐT, cổ đông, thành viên DN, góp phần lành mạnh hóa hoạt động DN.

Quỳnh Trang(Tổng hợp)

KinhDoanhNet

Cùng Chuyên Mục