Sự thật như thế nào? Nếu không nói ra chắc dư luận cũng như Đại biểu Quốc hội cũng chưa hội đủ thông tin để những điều mà chúng tôi đã đặt vấn đề từ số báo trước là "không bình thường". Chỉ dừng lại lĩnh vực thanh tra về thuế thôi đối với Công ty Đại Nam đã minh chứng cho điều đó. Xin dẫn ra đây một số thông tin dưới đây:
- Ngày 23/10/2012 Tổng Cục Thuế đã có Quyết định số 1647/QĐ-TCT kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thuế tại Công ty Cổ phần Đại Nam. Thời kỳ kiểm tra năm 2011.
- Ngày 21/8/2013 Kiểm toán Nhà nước có Văn bản gửi Cục Thuế tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu cung cấp số liệu để thực hiện kiểm tra, đối chiếu về nghĩa vụ với NSNN từ năm 2010 -2012.
- Ngày 24/7/2014 Cục Thuế tỉnh Bình Dương có Quyết định thanh tra thuế 4509/QĐ-CT tại Công ty Cổ phần Đại Nam. Thời kỳ thanh tra năm 2012.
- Ngày 20/10/2014 Công ty Đại Nam có nhận được Quyết định thanh tra thuế 6434/QĐ-CT ngày 16/10/2014 của Cục Thuế tỉnh Bình Dương về việc thanh tra thuế tại Công ty Đại Nam (Thanh tra lần 2 năm 2014). Thời kỳ thanh tra từ năm 2009 đến nay.
Vườn cao su của ông Chủ tịch tỉnh Bình Dương
Như vậy chỉ riêng Cục Thuế Bình Dương chỉ trong vòng 3 tháng đã có 02 Quyết định thanh tra đối với Công ty Đại Nam. Riêng Quyết định thanh tra số 6434/QĐ-CT ngày 16/10/2014 của Cục Thuế tỉnh Bình Dương đã xác định thời kỳ thanh tra từ năm 2009 đến nay. Như vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, Cục Thuế tỉnh Bình Dương ra 02 Quyết định thanh tra liên tiếp như vậy làm cho doanh nghiệp cũng như dư luận thấy không bình thường. Điều mà chúng tôi nhấn mạnh là thời kỳ năm 2011 đã được Tổng Cục Thuế kiểm tra và có kết luận. Tương tự như vậy thời kỳ năm 2012, Cục Thuế Bình Dương cũng đã thanh tra và kết luận. Như vậy Theo quy định của pháp luật về thanh tra, Cục Thuế Bình Dương không có quyền thanh tra, kiểm tra lại vụ việc mà Tổng Cục Thuế đã kết luận, cũng như những vụ việc mà ở Cục Thuế Bình Dương đã kết luận các thời kỳ năm 2011 và năm 2012. Đúng sai - phải trái xin nhường câu trả lời cho các chuyên gia về thuế và bạn đọc. Còn tại kỳ báo này, chúng tôi chỉ đề cập đến một vụ việc đã thu hút sự chú ý của dư luận trong nhiều tháng qua; đó là tài sản "khủng" của ông Chín Cung, Chủ tịch đương nhiệm UBND tỉnh Bình Dương. Tài sản "khủng" gắn liền với thu nhập "khủng": 50 triệu đồng/ ngày từ vườn cao su của ông Chín Cung thì không thấy cơ quan thuế đặt vấn đề thanh, kiểm tra. Ít ra thì cũng là Thuế Tài nguyên, Thuế thu nhập v.v... Đó là chưa đề cập đến việc mà báo chí đã nêu là khu vườn cao su đó có nguồn gốc là đất công. Mà đã là đất công thì dù là 1 mét vuông cũng là của công.
Trở lại vấn đề này, cách nay ít lâu, trên các phương tiện truyền thông có đưa tin cho rằng ông Cung sở hữu căn biệt thự trị giá hàng chục tỉ đồng và “vườn cao su trăm tỉ”, tương đương diện tích khoảng 100 ha ông Nguyễn Minh Giao, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Dương, khẳng định: "Việc ông Cung sở hữu căn biệt thự và khu vườn cao su là có thật, nhưng diện tích và giá trị thì không phải như vậy”... “Diện tích cao su hiện ông Cung đang sở hữu chỉ vài chục héc ta”. Còn nguồn tiền để xây dựng căn biệt thự, ông Giao nói: “Tại thời điểm cao su đang lên giá (từ năm 2000 đến 2004 - PV), với hàng chục héc ta cao su, thu hoạch khoảng 50 triệu đồng/ngày thì việc xây dựng căn biệt thự vài tỉ đồng là chuyện bình thường”. “Toàn bộ tài sản của ông Cung được hình thành và đã có từ trước khi được bổ nhiệm lãnh đạo tỉnh, điều này thì ai cũng biết”, ông Giao cho biết. Cũng theo ông Giao, trong năm 2013 và tháng 7.2014, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ về tài sản của ông Cung. Sau đó, Ủy ban Kiểm tra T.Ư cũng đã có kết luận tài sản của ông Cung đã được đăng ký kê khai theo đúng quy định. Số tài sản của ông Cung không có dấu hiệu tham ô, tham nhũng. (Bình Dương lên tiếng vụ tài sản ‘khủng’ của Chủ tịch tỉnh - Báo Thanh niên online ngày 05/9/2014).
Từ bài viết trên có thể nhận thấy thông tin ngoài tiền lương chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương thì ông Cung còn có thu nhập ngoài lương là khoảng 50 triệu đồng/ngày từ nguồn thu hoạch hàng chục héc ta cao su (từ năm 2000 đến 2004 - PV). Như vậy, Theo qui định pháp luật từ năm 1994 đã có Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao rồi đến hiện nay là Luật Thuế thu nhập cá nhân được ban hành nhằm qui định các khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập bao gồm thu nhập thường xuyên dưới các hình thức: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, tiền thưởng; các khoản thu nhập ngoài tiền lương, tiền công do tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng nộp thuế lợi tức... Từ các qui định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân nêu trên, so sánh nguồn tiền báo chí thông tin một cá nhân dùng để xây dựng căn biệt thự, tại thời điểm cao su đang lên giá (từ năm 2000 đến 2004) được thu nhập từ hàng chục héc ta cao su, thu hoạch khoảng 50 triệu đồng/ngày thì đây là các khoản thu nhập ngoài tiền lương, tiền công do tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh thì khoản thu nhập này là các khoản thu nhập thường xuyên phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo qui định của pháp luật. Theo đó, một cá nhân có mức thu nhập mỗi ngày bằng 50 triệu đồng thì mỗi năm bằng 50 x 365 = 18.250.000.000 đồng. Thu nhập từ năm 2000 đến năm 2004 là 5 năm x 18.250.000.000 đồng = 91.250.000.000 đồng. Đây là một khoảng thu nhập “khủng” nên cơ quan thuế phải kiểm tra chặt chẽ về trách nhiệm nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (trước đây) hoặc nộp thuế thu nhập cá nhân (hiện nay).
Trách nhiệm của người nộp thuế là kê khai nộp thuế phải rõ ràng, đầy đủ nộp thuế vào ngân sách nhà nước và quyết toán thuế đối với mọi khoản thu nhập theo quy định của pháp luật về quản lý thuế (Điều 24 Luật Thuế thu nập cá nhân). Nếu cơ quan quản lý thuế phát hiện cá nhân, tổ chức có vi phạm pháp luật về thuế thì có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh tội phạm vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và thông báo tiến độ, kết quả xử lý vụ việc cho cơ quan quản lý thuế (Điều 9, Điều 13 Luật quản lý thuế).
Còn việc ông Giao - Trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh Bình Dương đã trả lời trong năm 2013 và tháng 7.2014, Ủy ban Kiểm tra Trung ương (UBKT TƯ) đã tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ về tài sản của ông Cung. Sau đó, Ủy ban Kiểm tra T.Ư cũng đã có kết luận tài sản của ông Cung đã được đăng ký kê khai theo đúng quy định. Số tài sản của ông Cung không có dấu hiệu tham ô, tham nhũng. Đã có báo chí phản ánh lên sự thật như sau: Nhận xét sự vụ trên, một đại diện UBKT TƯ đã cho rằng: Ông Giao nói UBKT TƯ đã “kiểm tra, xác minh làm rõ tài sản của ông Cung”; nhưng theo đại diện UBKT TƯ rằng “không có chuyện đó”, “có làm đâu mà kết luận?” Ông Giao trả lời như vậy là “không chuẩn” – vị đại diện UBKT TƯ Đảng nói. Tuy nhiên, theo đại diện UBKT TƯ, sau khi báo chí phản ánh vụ tài sản “khủng” của Chủ tịch tỉnh BD vào cuối năm 2013, UBKT TƯ có cử người đi vào tận vườn cao su và biệt thự của Chủ tịch tỉnh BD để khảo sát, hình dung … “Có thể mấy ảnh biết chúng tôi đi, nên mấy ảnh nghỉ là đã làm rồi, mà không làm ra được cái gì hết, làm thinh luôn, nên mấy ảnh mượn cái này để nói UBKT TƯ đã làm rồi… Sau khi báo đăng, chúng tôi đã gọi điện thoại lên Tỉnh ủy, phản ánh việc Trưởng Ban Tuyên giáo nói như vậy trên báo chí là không đúng. Chúng tôi làm là phải có quyết định; làm xong là phải có thông báo kết luận chuyện đó đúng hay sai… Đằng này, UBKT TƯ đã làm gì đâu, mà nói UBKT TƯ Đảng đã “kết luận”? Chưa nói, ông Trưởng Ban Tuyên giáo trả lời trên báo chí không rõ ràng, chỉ trả lời… chung chung “vài chục héc – ta” là không chuẩn…” – đại diện UBKT TƯ Đảng nói (Trưởng ban tuyên giáo tỉnh Bình Dương phát ngôn 'Không chuẩn' tamnhin.net ngày 10/10/2014).
Đến đây, hẳn bạn đọc sẽ rõ. Thử làm một phép so sánh: Một bên là doanh nghiệp từ nhiều năm qua luôn phải đón tiếp và làm việc nhiều đoàn, ban ngành thanh kiểm tra về thuế, có nhiều nội dung thanh tra lại nhưng vẫn cứ thanh tra cho bằng được dù trái luật. Còn một bên là cá nhân lãnh đạo tỉnh có thu nhập “khủng” so với người dân lao động bình thường thì có hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo qui định pháp luật, có khai báo thu nhập hàng năm với cơ quan nhà nước với Đảng? Nếu có vi phạm thì liệu rằng Cục Thuế Bình Dương có “dám” thanh tra?
Tại Điều 161 “Tội trốn thuế” Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi sung 2009) qui định như sau: 1/. Người nào trốn thuế với số tiền từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế... thì bị phạt tiền từ 1 lần đến 5 lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm; 2/. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ 1 lần đến 5 lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; 3/. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ 600 triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm; 4/. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 1 lần đến 3 lần số tiền trốn thuế.
Nhóm PVĐT