Trong khi cả nước đang đẩy mạnh phong trào nâng cao nghiệp vụ, phòng chống tiêu cực trên mọi lĩnh vực; đặc biệt trong ngành Công an, Viện Kiểm sát thì yếu tố đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ là rất cần thiết bởi sự non kém này sẽ dẫn đến oan sai, như trường hợp của ông Trần Văn Song: chỉ là một nhân viên “thấp cổ bé họng” nhưng phải chịu bản án oan nghiệt mà dư luận rất quan tâm, trong khi người gây ra tội thì xử phạt nhẹ hoặc không phải chịu tội hoặc bắt người khác chịu tội thay.
Theo như bản Cáo trạng Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hà Nội (VKSND Hà Nội), ông Trần Văn Song là Tổ trưởng tổ bán hàng của Chi nhánh Hà Nội thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên (CT CPGTTN). Nhưng qua quá trình tìm hiểu kỹ bản chất của sự việc thì không phải hoàn toàn như vậy.
Ngay từ tên gọi chức danh của bị can Trần Văn Song trong bản Cáo trạng đã có sự sai lệch. Theo như đơn phản ánh thì ông Trần Văn Song chỉ là Tổ trưởng tổ giao nhận hàng, phụ trách ba người lao động tại Thái Nguyên, nhiệm vụ chủ yếu của ông Song là trình ký phiếu xin cấp hàng và ký nhận hàng Công ty xuất giao cho các cửa hàng của Chi nhánh theo chỉ đạo của cấp trên.
Với nhiệm vụ được phân là Tổ trưởng, ông Song phân công lại cho người trực tiếp đi giao sao cho đúng xe và người nhận hàng. Ông Song có trách nhiệm chấm công cho anh em và hàng tháng nhận lương của Chi nhánh chứ không có chức năng và quyền hạn gì liên quan đến khách hàng và hoàn toàn không biết đến các Hợp đồng mua bán của Chi nhánh. Hàng xin được là cho Chi nhánh chứ không phải xin cho bản thân… Vì vậy việc ông Song lợi dụng chức năng và quyền hạn là không đúng.
Khẳng định nhiệm vụ của ông Trần Văn Song, có thể xác định được thông qua các chứng cứ ngoại phạm, trực tiếp có thể căn cứ thông qua Hợp đồng lao động giữa ông Song với Chi nhánh.
Bản chất thì nhiệm vụ của ông Song là Tổ trưởng tổ bán hàng hoàn toàn khác với Tổ trưởng tổ giao nhận hàng. Thực tế người giao hàng chỉ có chức năng thực hiện giao hàng đủ, đúng người, đúng địa chỉ đến người mua theo yêu cầu của người bán. Còn đối với tổ trưởng tổ bán hàng phải là người đại diện hợp pháp của công ty, mọi giao dịch khách hàng hay các Hợp đồng kinh tế đều phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật, đồng thời là người chịu trách nhiệm trước pháp luật khi mọi vấn đề xảy ra đối với công ty.
Như vậy căn cứ vào Hợp đồng lao động, cũng như trình độ chuyên môn, tuổi tác, năng lực ông Trần Văn Song chỉ là một nhân viên bình thường hàng tháng hưởng lương của Chi nhánh thì không thể là người đại diện chính để thực hiện các giao dịch Hợp đồng mua bán cho Công ty được? Vấn đề đặt ra là người bán hàng hợp pháp ở đây là ai? tại sao các Cơ quan tiến hành tố tụng lại đánh đồng giữa người “giao nhận hàng” với người “ bán hàng”? Phải chăng có uẩn khúc gì ở đây???
Từ việc chấp hành nội quy của công ty “sếp chỉ đạo thế nào nhân viên làm thế”.
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Trần Văn Song là tổ trưởng tổ bán hàng của Chi nhánh Hà Nội đã thực hiện hành vi làm tài liệu xin cấp hàng giả dẫn đến việc Chi nhánh Hà Nội bán thép vượt bảo lãnh của BIDV Tây Hà Nội cho Công ty Lưỡng Thổ gây thất thoát không thu hồi được số tiền là 21.178.281.324 đồng. Trong bản Cáo trạng cũng đã nêu rõ ngày 13/4/2011, Trần Văn Song làm giả đơn xin cấp hàng ghi cho Công ty Hồng Trang do Nguyễn Quốc Đạt làm giám đốc. Cáo trạng thì như vậy, nhưng trên thực tế thì ông Song không có đủ khả năng để làm giả tài liệu xin cấp hàng, mà ông chỉ làm thông qua sự chỉ đạo của ông Nguyễn Việt là trưởng phòng kế hoạch tổng hợp chi nhánh.
Ông Song giải thích sự việc như sau: trước kia thì phiếu xin cấp hàng được lập tại chi nhánh ở Hà Nội rồi Fax lên Thái Nguyên để photo trình công ty ký duyệt (theo trình tự trang 12 cáo trạng). Nhưng từ cuối năm 2010 lãnh đạo không làm như vậy nữa, không Fax phiếu xin cấp hàng mà giao cho ông Song làm theo phương thức tại Thái Nguyên. Ông Việt cung cấp số liệu, sau đó ông Song theo mẫu bản Fax cũ dán phần nội dung đã được đánh máy rồi photo trình ký, phiếu ngày 13/04/2011 ông Song vẫn làm theo thường lệ này. Ông Đường phòng Kế toán tài chính, ông Hùng phòng Kế hoạch thị trường và ông Tòng phó Tổng giám đốc ký duyệt. Ông Việt điều hàng cho xe và người đến nhận tại kho công ty và yêu cầu ông Song đi lấy tích kê để anh Hoàng, anh Rạng, anh Diệp (trong tổ giao nhận hàng) lấy hàng và trực tiếp giao.
Thực tế có cả xe của Công ty An Nguyên (của kế toán) và DNTN Hoàng Dương (của vợ ông Hòa – Giám đốc Chi nhánh). Ngày 15/4/2011 ông Hùng gọi ông Song vào phòng cho biết: Công ty Hồng Trang (của chồng) đã thanh lý Hợp đồng nên đổi tên khách hàng thành Công ty Lưỡng Thổ (của vợ), ông Song phải làm lại phiếu để trình ký duyệt lần 2. Công ty đã chấp nhận và ký duyệt. Trước đó cũng đã có 10 phiếu có cách làm như Phiếu ngày 13/04/2011. Chi nhánh đã bán ra hàng nghìn tấn thép và Công ty cũng đã thu về hàng ngàn tỉ đồng, kể cả Phiếu ngày 13/04/2011 Công ty đã chấp nhận, Lãnh đạo Chi nhánh đã khẳng định bằng cam kết mà không ai nói là sai. Cho đến cuối 5/2011 khi ông Hòa không thực hiện được cam kết (Chi nhánh đảm bảo bán hàng, thu tiền đầy đủ và cam kết hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc lấy hàng) thì quay ra đổ lỗi cho ông Song rồi đến cơ quan điều tra quy chụp cho ông Song là tự ý làm phiếu giả?
Bản cáo trạng của VKSND Hà Nội.
Là một nhân viên giao nhận hàng “thấp cổ bé họng”, ông Song không có quyền lên tiếng hay phản đối mà chỉ biết làm việc theo phân công công việc của cấp trên. Các lãnh đạo Chi nhánh Hà Nội giao việc gì thì ông Song chỉ biết làm theo. Vì ông sợ là một nhân viên mà không làm tròn công việc cấp trên giao thì sẽ vi phạm Hợp đồng lao động: nếu lãnh đạo giao công việc mà không hoàn thành thì nhân viên đó có thể bị trừ lương, kỉ luật, hoặc có thể bị xa thải… (thực tế lúc đó ở Chi nhánh là như vậy).
Về phía công ty đã chấp nhận ký duyệt thì phải chịu trách nhiệm về nội dung. Lãnh đạo Công ty đã phê duyệt và ký nhận trên phiếu photo đó, điều đó đồng nghĩa với việc lãnh đạo Công ty chấp nhận phiếu đó và là người kí nhận thì phải chịu trách nhiệm về nội dung trên bản phiếu đã kí. Một câu hỏi đặt ra ở đây, tại sao người có quyền kí xác nhận mà lại không chịu trách nhiệm về chữ ký và con dấu của mình mà lại quy trách nhiệm cho một người không đúng chuyên môn, nhiệm vụ làm?.
Một vấn đề đặt ra nữa, tại sao ông Hùng lại gọi ông Song vào phòng rồi cho đổi tên khách hàng trên phiếu xin cấp hàng trong khi hàng đã được lấy trước đó rồi mà lại không họp hay ra thông báo cho toàn công ty được biết. Điều đáng nghi ngờ ở đây, tại sao phiếu xin cấp hàng trên chỉ lưu hành nội bộ, phiếu làm rất nhiều lần như vậy, cả lãnh đạo và nhân viên công ty đều biết đến việc lưu hành và tồn tại của phiếu đó mà không ai lên tiếng hay ý kiến gì. Hơn nữa sự việc xảy ra từ 4/2011 mà mãi sau này khi công ty và các cơ quan điều tra vào cuộc mới cho đó là phiếu giả???
“Sếp” chỉ đạo nhân viên chịu tội “báo ăn gia”
Từ việc chỉ biết làm theo mệnh lệnh “trên bảo sao dưới làm vậy dẫn đến hậu quả “quýt làm cam chịu”. Theo như bản cáo trạng của VKSND Hà Nội, ra quyết định truy tố đối với bị can Trần Văn Song là Tổ trưởng tổ giao hàng với tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điều 165, khoản 3, bộ Luật Hình sự. Căn cứ vào quyết định của bản Cáo trạng việc ông Song cố ý làm trái quy định của Pháp luật là chưa có cơ sở, bởi vì trên thực tế ông Song chỉ làm theo sự chỉ đạo của cấp trên. Ngoài ra, ông Song không là người trực tiếp quản lý kinh tế mà chỉ là nhân viên giao hàng bình thường, nên việc gây ra hâu quả nghiêm trọng là điều vô lý.
Theo quyết định số 04/QĐ-HĐQT ngày 25/1/2011 của Chủ tịch Hội đồng quản trị CT CPGTTN trong bản cáo trạng đã nêu rõ: “Việc bán hàng của Chi nhánh do Giám đốc Chi nhánh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Tổng giám đốc về việc bán hàng và thu tiền”. Trong khi đó ông Trần Văn Song không phải là người bán hàng, cũng không phải là người thu tiền mà ông chỉ là một nhân viên giao nhận hàng bình thường thì cớ sao các cơ quan điều tra lại quy chụp tội cho một Đảng viên, một quân nhân xuất ngũ luôn sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật.
Thông qua vụ việc trên, yêu cầu các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần nhanh chóng vào cuộc, điều tra làm rõ các tình tiết của vụ án. Xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Tránh tình trạng xử oan sai gây bất bình trong nhân dân, từ đó làm mất niềm tin của nhân dân.
Chiến Thắng