Việc các DNNN chậm cổ phần hóa là bởi nền kinh tế Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, nguy cơ lạm phát, nguy cơ khó khăn về thanh khoản thường trực.
TTCK, bất động sản sụt giảm khiến cho một số cổ phiếu niêm yết thấp hơn mệnh giá hoặc giá hiện tại thấp hơn thời điểm DN mua cổ phần nên ảnh hưởng đến việc thoái vốn (vì các DN phải đảm bảo quy định về bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư). Từ đó dẫn đến tiến độ bán cổ phần, cổ phiếu ra công chứng và thoái vốn đầu tư không thể đẩy nhanh.
Ngoài ra, còn nhiều DNNN đầu tư dàn trải, số lượng thành viên tăng không tương xứng theo năng lực quản lý dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn nhà nước kém, tuy vốn nhà nước ở doanh nghiệp tăng mạnh nhưng doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, tỷ suất lợi nhuận trên vốn lại tăng không tương ứng.
Sự thiếu chủ động, tích cực của những người lãnh đạo DNNN cũng được coi là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng đến tốc độ cổ phần hóa các DNNN.
Cổ phần hóa các DNNN chậm trễ còn xuất phát từ cơ chế quản lý nhà nước chưa theo kịp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, chức năng đại diện chủ sở hữu DNNN còn chồng chéo, các chính sách còn chậm sửa đổi và hệ thống pháp lý trong vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp chưa hoàn thiện.
Các DN được thoái vốn dưới mệnh giá sau khi đã trích lập dự phòng rủi ro, đó là nội dung của Quyết định 15/2014/QĐ-TTg. Nhưng đến nay, các DN cho biết vẫn chưa có hướng dẫn rõ ràng để trích, vì vậy khó minh bạch được tài chính. Khó khăn hơn là thoái vốn của các DN đã đầu tư trong 2-3 năm trở lại đây.
Đặc biệt trong lĩnh vực thi công xây lắp, nợ nần nhau nhiều và các khoản nợ này sẽ vẫn còn duy trì, kéo dài trong thời gian tới. Vì vậy, đến thời điểm xác định giá trị DN, phải xem xét, đánh giá lại những khoản này.
Chi phí cũng là một vấn đề lớn. Theo quy định của Nhà nước về chuyển DN 100% vốn Nhà nước thành CTCP thì người lao động dôi dư tại DN chỉ được hưởng trợ cấp dôi dư khi chưa giải quyết chính sách lao động dôi dư theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP, Nghị định số 155/2004/NĐ-CP, Nghị định 110/2007/NĐ-CP.
Với các DN trực thuộc trong các tổng công ty Nhà nước hoặc tập đoàn, để có thể thoái vốn Nhà nước, thì phải CPH các DN này, sau đó qua IPO để thoái vốn.
Tuy nhiên, Nghị định 59/2011/NĐ-CP cho phép CPH đối với các DNNN hạch toán độc lập, không quy định CPH một bộ phận DN là chi nhánh đơn vị trực thuộc của công ty Nhà nước đã và chưa CPH.
Các tập đoàn sẽ gặp khó khăn trong việc triển khai các dự án trọng điểm có quy mô vốn đầu tư lớn, sử dụng nhiều lao động. Bởi theo trình tự, phải thành lập các đơn vị trực thuộc tập đoàn để triển khai các thủ tục về quản lý đầu tư, vận hành dự án để đảm bảo các dự án hoạt động ổn định, có hiệu quả. Tiếp sau đó, tiến hành xã hội hoá các dự án đầu tư này bằng cách CPH các chi nhánh, đơn vị trực thuộc được thành lập ban đầu.
Quỳnh Trang(Tổng hợp)