Ngày 10/03/2011, ông Trần Tùng được cấp giấy CNQSDĐ. Ngày 29/03/2011 ông Trần Tùng thế chấp QSDĐ trên để bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng (HĐTD (lần 1) với Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL - PGD Thọ Sơn và Ngân hàng (NH) đã đăng ký giao dịch bảo đảm.
Do ông Trần Tùng có vay bà Tú Oanh tiền không trả được nên bị khởi kiện, đến ngày 11/07/2012 TAND TP. Việt Trì ra QĐ số 88 công nhận sự thỏa thuận của ông Trần Tùng và bà Tú Anh về việc ông Trần Tùng có nghĩa vụ trả 470 triệu cho bà Tú Anh. Ngày 18/07/2012 căn cứ đơn yêu cầu Thi hành án (THA) của bà Tú Anh, Chi cục THA Việt Trì ra QĐ số 278/QĐ thi hành án theo đơn yêu cầu và ngày 31/07/2012 ra tiếp QĐ số 288/QĐ - CCTHA thi hành án chủ động.
Sau khi xác minh biết ông Trần Tùng có thửa đất đang thế chấp tại NH, ngày 02/08/2012 Chị cục THA dân sự Việt Trì phát hành công văn số 515/CV – THA về việc phối hợp THA gửi: UBND thành phố Việt Trì, các phòng công chứng trên địa bàn TP.Việt Trì, phòng TN&MT TP.Việt trì, UBND phường Dữu Lâu, NHPT nhà- ĐBSCL, đề nghị không làm các thủ tục mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp đối với tài sản trên và đề nghị NH không cho vay thêm tiền tại NH nữa.
Đến ngày 29/03/2013 do ông Trần Tùng đã thanh toán với NH theo HĐTD (thứ 1) nên đã xóa thế chấp QSDĐ, đến ngày 01/04/2013, NH tiếp tục đăng ký GDBĐ tài sản trên theo HĐTC số 0030.13 ký ngày 29/03/2013 để bảo đảm cho HĐTD (thứ 2). Sau đó, do không có khả năng thanh toán lãi đến hạn, lãi quá hạn nên ngày 16/02/2013 tại Phòng giao dịch Thọ Sơn, NH và ông Trần Tùng đã thống nhất đến hết ngày 25/12/2013 không thanh toán được nợ, gia đình ông Trần Tùng tự nguyện bàn giao tài sản để NH xử lý thu hồi nợ.
Ảnh minh họa
Vì vậy, bà Nguyễn Thu Hà là cán bộ Ngân hàng phòng giao dịch Thọ Sơn thông qua vợ chồng ông bà Dũng - Oanh giới thiệu để ông Đoàn Quang Năm mua tài sản trên. Theo thỏa thuận bà Hà bán cho ông Năm giá 205.000.000đ trọn gói. Bà Hà chịu trách nhiệm và chi phí làm sổ đỏ cho bên mua, thanh toán làm 2 lần; lần 1: 50.000.000đ vào ngày 27/01/2014; lần 2 là 155.000.000đ sau khi bà Hà bàn giao sổ đỏ.
Ông Năm giao 50.000.000đ cho bà Hà vào hồi 10h ngày 27/01/2014 có sự chứng kiến của ông Dũng và 10h30 bà Hà, ông Dũng, bà Hùy (vợ ông Năm) lên phòng công chứng (lần 1) ký một số văn bản, (cùng ngày 27/01/2014 bà Hà đã nộp vào Ngân hàng 129.200.000 đ là số tiền nợ của ông Trần Tùng để ngày 11/02/2014 làm thủ tục xóa thế chấp, để đủ điều kiện ký HĐCN ngày 12/02/2014 tại phòng công chứng).
Theo yêu cầu của bà Hà ngày 10/2/2014 bà Hà và vợ chồng ông Năm lên phòng công chứng (lần 2) ký tiếp một số văn bản. Lần 3, bà Hà yêu cầu ông Năm lên phòng công chứng ký một số văn bản có ông Dũng đi kèm, lần 4 bà Hà mang một số văn bản đến nơi bà Hùy bán hàng ở chợ yêu cầu ký một số văn bản nữa. (Bà Hà đã tách vợ chồng ông Năm không cho gặp vợ chồng ông Trần Tùng để dấu giá trị giao dịch). Đến ngày 05/03/2014 bà Hà báo ông Năm đến 07/03/2014 có sổ đỏ và yêu cầu trả nốt tiền, vợ chồng ông Năm chưa có tiền nên hẹn 15/03/2014 thanh toán và nhận sổ đỏ vào 17h30.
Vào ngày 21/04/2014 ông Năm nhận được thông báo THA số 388 thông báo kê biên tài sản trên và QĐ số 41 QĐ kê biên tài sản nói trên. Ngày 23/04 CC THADS Việt Trì có giấy mời vợ chồng ông Năm lên làm việc. Sau đó, ngày 09/05/2014 Chi cục THA Việt Trì ra thông báo số 435/TB – THA về việc tiến hành kê biên tài sản vào hồi 8h ngày 27/05/2014, ngày 12/05/2014 THA và thông báo số 439 yêu cầu nộp Giấy chứng nhận QSDĐ. Ngày 15/05/2014 ông Năm khiếu nại lần 1, 20/05/2014 thông báo số 07 về việc thụ lý Khiếu nại ngày 26/05/2014. Ngày 28/05/2014 THA và thông báo số 482/TB -THA thông báo về việc Hội đồng cưỡng chế đã kê biên tài sản vào ngày 27/05/2014 và giao vợ chồng ông Năm quản lý.
Quy định của pháp luật liên quan đến vụ việc trên
Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Điều 90 Về kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp quy định:
1. Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án. (Ngân hàng cho vay bằng 70% giá trị tài sản bảo đảm)
2. Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này.
Khoản 3 Điều 47 quy định: Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án.
Theo TTLT 14/2010/TTLT/BTP-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.
Điều 6. Kê biên, xử lý tài sản để thi hành án
1. Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án.
Kể từ thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để thi hành án.
2. Thủ tục giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Toà án theo khoản 4 Điều 179 Luật thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản theo quy định của pháp luật, trường hợp có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án chỉ xử lý tài sản khi có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
3. Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án; yêu cầu người nhận cầm cố, thế chấp thông báo để cơ quan thi hành án kê biên tài sản đã cầm cố, thế chấp khi người vay thanh toán hợp đồng đã ký hoặc để kê biên phần tiền, tài sản còn lại (nếu có) sau khi tài sản bị bên nhận cầm cố, thế chấp xử lý để thanh toán hợp đồng đã ký.
Báo KD&PL sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc về cách trả lời trước báo chí của các bên liên quan ở số báo sau.
Công Biên - Trí Dũng